Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

Một giuộc



Một giuộc

Lão Cò vào trong buồng bê hũ rượu Tiên Lãng Tửu ra, đã lâu rồi hôm nay bố con bác Thảo Dân mới tới, lão cũng muốn uống vài chén cho thông khí huyết, đầu óc thăng hoa. Thằng Út đỡ hũ rượu từ tay lão Cò nó bảo:
- Kể từ ngày được cắp vợt xúc tép đi cùng các sếp tới các sân ten-nít, nên cháu được thưởng thức đủ loại rượu Tây, Tàu. Ngẫm lại chả có loại rượu nào bằng Tiên Lãng Tửu mà bố cháu đã lấy 109 loại lá cây chế ra loại rượu này. Hôm rồi cháu mang mấy chai biếu các sếp uống thử, sếp nào cũng bảo: Đúng là Tiên Lãng Tửu, dù Minh Mạng Thang hay Suối Tiên Đệ Nhất Tửu cũng không sánh nổi...
Lão Cò nghe thế nhìn bác Thảo Dân cười ruồi:
- Bác nghe thằng Út nói về loại rượu ngâm lá cây của bác có sướng không?
Bác Thảo Dân gật gù:
- Nếu đó là lời khen thật của các sếp thì đó là chứng chỉ cho loại rượu mà tôi ngày đêm lên núi Hài tìm kiếm đủ loại dược thảo để chế ra loại rượu này...
 - Tôi vẫn chưa hẳn tin lời khen của nó đâu, rất sợ kiểu “Mèo khen mèo dài đuôi”.
Thằng Út nghe thế vội bảo:
- Lão Cò dạo này hay đa nghi Tào Tháo quá. Cháu có giống lão giám đốc tọ tẹ đâu. Hôm rồi nghe người ta nói lão ấy khen cậu con rể tốt nghiệp đại học tại chức là một người có tài năng, giới thiệu vào lãnh đạo hàng tỉnh. Thiên hạ nghe thế thấy chối tai quá mới bảo: Tham như “lái chó”, ngu như “lái chó” mới sắp ghế cho thằng con rể bất tài lên làm lãnh đạo.
Lão Cò vội đặt chén rượu xuống chiếu:
- Thế hả? Tao nghe nói lão giám đốc tọ tẹ không bổ nhiệm những người tốt nghiệp đại học tại chức kia mà?
- Ối giời đất ơi, ai mà tin được lão “lái chó” chứ? Mồm lão ta nói không tuyển trung cấp, nhưng lão lại ép người ta nhận một lũ con cháu nhà lão ấy học trung cấp vào biên chế nhà nước chứ. Lũ con cháu nhà lão ấy nhiều đến nỗi lão chẳng nhớ hết họ tên từng đứa.
Bác Thảo Dân từ nãy vẫn ngồi yên nay mới đập tay xuống chiếu:
- Không nhớ họ tên con cháu mình, chắc là loại cháu rơi, cháu tiền?
- Thiên hạ cũng nói như vậy. Người ta bảo: Mua “lái chó” chỉ bằng bữa thịt chó. Nay người ta đem đến vài chục triệu khiến lão ta mờ mắt nên nhận xằng là cháu để kiếm phong bì. Đó là kiểu làm tiền bẩn thỉu của “lái chó” lão Cò ạ.
Lão Cò nghe thế thở dài.
- “Lái chó” mà làm tiền trắng trợn như thế thì cái ngành mà “lái chó” đang làm giám đốc nát bét hết rồi sao?
- Không nát mới lạ chứ? Dịch lở mồm long móng rồi cúm gia cầm bùng phát khắp nơi, lão giám đốc tọ tẹ vẫn ung dung ngồi nhà chỉ đạo qua điện thoại...
Bác Thảo Dân sốt ruột quá mới hỏi:
- Cấp trên có biết những việc làm của tay giám đốc tọ tẹ với biệt danh “lái chó” đó không nhỉ?
- Chứ sao lại không biết? Dưng mà bố ơi, cùng một giuộc cả thôi, rút dây thì sợ động rừng.
Lão Cò giơ hai tay lên trời mà than:
- Thế thì đại loạn thật rồi...Thái Sinh


Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2014

Chuyện ở vùng bưởi tiến vua

Chuyện ở vùng bưởi tiến vua
Thái Sinh   -Thứ Sáu, 31/01/2014, 6:40 (GMT+7)
Khả Lĩnh là một ngôi làng nhỏ nằm ven bờ sông Chảy, nơi đây nổi tiếng với giống bưởi tiến vua. Nhưng mấy người biết trên mảnh đất này còn lưu giữ nhiều chuyện kỳ lạ... 
Khả Lĩnh với tên gọi xưa là Trang Kha Lệnh thuộc xã Đại Minh, thời nhà Nguyễn nằm trong phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang, kháng chiến chống Pháp Đại Minh được nhập vào huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, năm 1967 khi xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà xã Đại Minh tách ra khỏi huyện Đoan Hùng nhập vào huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ngày nay.
Nằm ở nơi giáp ranh ba tỉnh nên một tiếng gà gáy của làng Khả Lĩnh ba tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái đều nghe thấy. Chuyện xưa kể rằng: Ông tổ họ Nguyễn ở làng Khả Lĩnh ngày nay là quan đại thần họ Ngô, tên là Ngô Vi Lã. Do bất mãn với triều đình nhân một lần được sai đi thu lương thảo khu vực phía Bắc sông Hồng, Ngô Vi Lã mang theo cả gia đình, vợ con và những người thân tín trên mấy chiếc thuyền ngược sông Hồng, sông Lô với ý định theo chúa Bầu đang trấn trị ở Tuyên Quang chống lại triều đình.
Trên đường đi gần tới nơi thì nghe tin Đô đốc thiêm sự Khoan Quận Công Vũ Công Tuấn - cháu đời thứ 7 của Khánh Bá Hầu Gia Quốc Công Vũ Văn Uyên bị giết, nên vội rẽ vào sông Chảy ngược lên, tới Khả Lĩnh thì dừng lại lập làng. Nơi đây xưa vốn là rừng rậm nhưng đất đai ven sông Chảy mầu mỡ và khá bằng phẳng thuận tiện cho việc khai khẩn làm ruộng nương. Lo sợ bị triều đình đưa quân truy đuổi giết chết cả gia đình và dòng tộc, Ngô Vi Lã đổi họ và tên thành Nguyễn Viết Lãng sống ẩn dật nơi rừng hoang sương lạnh nơi này.
Nếu tính từ năm 1699 Đô đốc thiêm sự Khoan Quận Công Vũ Công Tuấn bị triều đình nhà Lê bắt giết thì làng Khả Lĩnh do Ngô Vi Lã lập đến nay được khoảng 315 năm. Đây là ngôi làng cổ, nhưng dân sống khá thưa thớt dấu vết làng xưa còn lại là ngôi đình đã bị phá vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, nay chỉ còn hậu cung với bốn chữ đại tự mà tiến sĩ khảo cổ Nguyễn Văn Quang, nguyên giám đốc bảo tàng tỉnh Yên Bái dịch là “Long đường cao thông” và ba cây bưởi cổ thụ.
Bưởi Khả Lĩnh quả nhỏ, vỏ mỏng, múi mọng nước, tôm đều không bị khô, ăn có vị ngọt mát, cất ở nơi râm mát để được đến tháng ba, tháng tư năm sau múi không bị lên “gạo”.

Cô Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đang phân loại bưởi giao cho khách hàng
Dân làng Khả Lĩnh dưới sự dẫn dắt của Nguyễn Viết Lãng đã phá rừng làm ruộng nương, biến vùng đất heo vắng ven bờ sông Chảy thành làng xóm trù phú, cuộc sống của người dân trở nên sung túc, giao thương với bên ngoài qua sông Chảy tấp nập, sau khi xây dựng thuỷ điện Thác Bà người dân chuyển nhà ra gần đường quốc lộ để thuận tiện việc đi lại, làm ăn và buôn bán.
Khi còn sống cụ Nguyễn Văn Hợi cháu đời thứ chín của Nguyễn Viết Lãng kể với con cháu rằng: Đình Khả Lĩnh ban đầu xây dựng ở đầu làng, nhưng do xây trên đất nghịch, nên thanh niên không lo học hành, làm ăn mà chỉ tìm cách đánh nhau, quậy phá gây ra nhiều chuyện phiền nhiễu khiến cuộc sống của người dân không mấy khi được yên ổn nên các bô lão họp bàn quyết định dời đình vào quả đồi ở giữa làng.
Theo thầy địa lý mảnh đất dựng đình làng nom giống như dáng một con chim ưng đang giang cánh, đầu quay về phía Đông Nam, cũng có người nói mảnh đất dựng đình như cái ngai, hai bên là hai doi đất là hai tay ngai. Dựng đình trên mảnh đất đó các cụ mong muốn con cháu sau này phát đạt, muốn thành đạt phải biết vươn mình ra biển lớn.

Hậu cung đình làng Khả Lĩnh còn lại
Cách đình 200 m có một mạch nước trong mát chảy ra từ dưới chân đồi, dân làng xây lại gọi là giếng Mỏ Cò. Giếng sâu chưa đến một mét nhưng nước không bao giờ cạn kể cả những năm hạn hán nước sông Chảy cạn trơ đáy. Hàng năm vào ngày hội đình mùng 10 tháng Giêng dân làng múc nước từ giếng Mỏ Cò rước về tế lễ trong đình. Bên cạnh đình là miếu thờ công chúa Quỳnh Hoa, Quế Hoa con vua Hùng thứ 18, người đã có công dạy cho nhân dân biết cấy cày, trồng dâu nuôi tằm dệt vải...
Trước đây miếu dựng bằng gỗ, qua nhiều năm tháng miếu bị sập đổ, người dân rước tượng vào hậu cung của đình, cách nay vài năm bà Hoàng Thị Vinh là con cháu bên ngoại dòng họ Nguyễn hiện đang sống tại Hà Nội đã cúng tiến xây dựng lại miếu, khi đó mới rước hai cô công chúa vào miếu thờ. Theo những người dân ở đây cho biết: Miếu thờ công chúa Quỳnh Hoa, Quế Hoa rất linh thiêng, nếu cặp vợ chồng nào vô sinh đến cầu tự sau đó đều có con.

Miếu thờ công chúa Quỳnh Hoa, Quế Hoa

Công chúa Quỳnh Hoa, Quế Hoa được người dân thờ trong miếu
Theo người dân kể lại, vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, trong làn sóng phá đình phá chùa, nhân khi đình Khả Lĩnh xuống cấp, ông Bùi Văn Hào khi đó là chủ nhiệm HTX đã bán đi, số tiền bán đình đủ mua được một chiếc đài do Nga sản xuất chạy bằng pin nhiệt, khi thắp đèn dầu lên nhiệt độ chênh lệch đài mới chạy. Ông Hào đã mất, nhưng con cái của ông ít người thành đạt. Ngày 20/2/2006, Chủ tịch nước Trần Đức Lương lên Yên Bái làm việc, ông đã tới thăm đình Khả Lĩnh và trồng lưu niệm một cây hải đường.
Người dân làng Khả Lĩnh còn truyền miệng nhiều câu chuyện kể, như chuyện hổ trả ơn người, chuyện rằng: Đất Khả Lĩnh xưa là vùng rừng rậm có nhiều hổ, một cụ già đang đêm trên đường trở về nhà bỗng nghe tiếng hổ gầm rú trong nỗi đớn đau tuyệt vọng nghe như lời cầu cứu. Mới đầu bà sợ hãi toan chạy đi, nhưng tiếng hổ càng kêu càng yếu, bà nghĩ: Mình già rồi sống chẳng còn được bao lâu nữa, nếu bị hổ ăn thịt cũng chẳng sao...
Nghĩ vậy bà vạch cây soi đuốc đi về phía tiếng hổ đang gầm rú, hoá ra con hổ đang trở dạ đẻ, nó đẻ ngược, hai chân hổ con bị mắc nên không ra được. Bà cụ cắm ngọn đuốc xuống đất xắn tay lôi con hổ con đẻ ngược ra, lần lượt 4 con hổ con tiếp theo chui ra khỏi bụng mẹ. Xong việc bà trở về nhà, ít ngày sau vào một đêm nọ bà nghe thấy có tiếng động phía đầu hồi, như có ai vừa vứt một vật nặng xuống.
Bà cầm đèn ra soi, thì thấy con lợn rừng chừng nửa tạ được ai vứt lại đó, soi đèn quanh nhà chỉ thấy các vết chân hổ. Người dân bảo do bà cụ đã cứu mạng mẹ con hổ, nên được nó trả ơn...
Một chuyện khác: Làng Khả Lĩnh có một người thợ rừng rất nghèo, hàng ngày phải vào rừng khai thác gỗ và đốn củi bán lấy tiền. Một hôm anh đốn được một cây gỗ to, chưa biết làm cách nào mang về được, thì chợt thấy một người lạ mặt dáng cao lớn lông lá đầy người từ trong rừng đi ra. Người thợ rừng sợ hãi toan chạy thì người lạ vẫy tay ngỏ ý muốn giúp anh mang cây gỗ về nhà, với điều kiện được ăn no, người thợ rừng đồng ý.
Người lạ mặt cúi xuống vác cây gỗ đi băng băng về nhà. Thức ăn của người lạ mặt không phải cơm gạo mà là gừng. Gia đình người thợ rừng thấy lạ quá nên mời người lạ ở lại nhà mình. Nhờ người lạ giúp sức vận chuyển gỗ từ rừng ra, nên gia đình người thợ rừng sau mấy năm trở nên giàu có. Trong làng có người báo lên quan, người lạ kia bị bắt nhốt vào cũi giải lên huyện. Quan huyện cho là yêu ma nên ra lệnh chém đầu. Nhưng cứ chém đầu đứt ra rồi lại liền ngay.
Thấy thế, quan triệu người thợ rừng lên tra khảo, người thợ rừng bày cách đem tro rơm nếp trộn với phân gà rồi bôi vào lưỡi kiếm, khi chém thì  đầu người lạ không liền lại được. Người lạ biết mẹo kia do người thợ rừng bày cho quan huyện, trước khi đầu rơi xuống đất đã nguyền rằng vợ chồng thợ rừng sẽ tuyệt tự. Quả như vậy, sau đó gia đình người thợ rừng sa sút, hai người con trai của họ phải bỏ làng tha phương cầu thực đều chết đường chết chợ, khi chết cả hai đều chưa có vợ con.
Bưởi làng Khả Lĩnh ngon nổi tiếng, những cháu con của Ngô Vi Lã về mùa thu hái bưởi đã thả những bè bưởi xuống dòng sông Chảy như muốn gửi thông điệp cho những người ở cuối dòng sông về một vùng quả ngọt nơi này. Lần theo dấu vết những bè bưởi đó người ta biết tới Khả Lĩnh một vùng bưởi ngon ngọt. Quan lại địa phương hàng năm đều chọn những trái bưởi thơm ngon nhất làng Khả Lĩnh mang về tiến vua. Giống bưởi Khả Lĩnh được nhân rộng khắp nơi.
Từ lâu, bưởi Đoan Hùng nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc, nhưng ngon nhất vẫn là bưởi Khả Lĩnh, nơi đây có những cây bưởi cổ tuổi đời hơn trăm tuổi, như chứng thực mảnh đất tổ tiên của giống bưởi quý này.
Ông Hoàng Minh Hiến năm nay đã bảy mươi tuổi người làng Khả Lĩnh dẫn tôi đi xem ba cây bưởi cổ thụ. Cây thứ nhất của gia đình bà Bùi Thị Sơn ở ngay trước cổng nhà ông. Cây có đường kính gốc chừng 60 - 65cm, ông Hiến cho hay khi ông còn nhỏ thì đã thấy cây bưởi đã to bằng chừng ấy rồi, mấy chục năm qua ông vẫn thấy cây bưởi như thế, khoảng hơn trăm tuổi gì đó, cây đã già lụ khụ, rêu phong cổ kính một phần vỏ sát gốc đã bong tróc, cành bị sâu đục thân đang chảy nhựa sền sệt, chắc không còn sống được bao lâu nữa.
Hai cây bưởi của gia đình ông Trần Quang Khải, năm 2004 nhân hội đình làng Khả Lĩnh hai cây bưởi này đã được gắn biển cây bưởi cổ. Theo những người già trong làng thì hai cây bưởi nhà ông Khải có tuổi đời khoảng 120-130 năm. Khi chúng tôi đến, ông Khải đi vắng chỉ có vợ ông ở nhà, bà cho hay nhà có hơn bảy chục cây bưởi, vườn bưởi trước nhà có 42 cây, năm nay bán được 80 triệu đồng, còn vườn bưởi sau nhà gồm giống bưởi chua và bưởi ngọt, vợ chồng ông không bán chỉ để làm quà.

Cây bưởi cổ thụ trong vườn gia đình ông Trần Quang Khải
Bà cười bảo tôi: Năm nay mới được thu chừng ấy thôi, mọi năm hoa bưởi ra trắng vườn nhưng quả không đậu, thu chẳng đáng là bao đâu bác ạ...
Tìm hiểu ra mới hay, nhiều năm trước đây người dân muốn dành đất trồng bưởi ngọt nên đã chặt gần hết những cây bưởi chua. Từ đó năng suất giảm dần, nhiều cây chỉ ra vài chục quả, họ chẳng hiểu vì sao lại như vậy. Có người nói do giống bưởi thoái hoá, người lại bảo do đất cằn cỗi...nên bưởi không đậu quả. Nhiều hộ trồng bưởi thu nhập thấp nên chặt bưởi thay thế loại cây trồng khác. Vùng bưởi tiến vua có nguy cơ xóa sổ.

Vườn bưởi nhà ông Trần Quang Khải
Năm 2007 Viện Nghiên cứu Rau quả tổ chức khảo sát, nghiên cứu rồi tập huấn cho 7 hộ ở các thôn: Khả Lĩnh, Cầu 17, Quyết Tiến "Qui trình kỹ thuật trồng và chăm sóc bưởi Đại Minh", bón tổng hợp cân đối các loại phân, thụ phấn nhân tạo bổ sung…Trong đó đáng chú ý nhất là việc dùng hoa bưởi chua thụ phấn cho cây bưởi ngọt. Đây là biện pháp kỹ thuật thụ phấn chéo, những hộ tham gia tập huấn năm 2010 được mùa bưởi to. Số tiền mà người dân trồng bưởi năm đó thu được khoảng 2,7 tỷ đồng, có hộ thu trên 140 triệu tiền bán bưởi.
Ông Nguyễn Tiến Dũng, thôn Cầu 17 dẫn tôi thăm vườn bưởi cho biết: Gia đình tôi trước đây có trên 50 gốc bưởi ngọt, sau nhiều năm mất mùa đã chặt quá nửa vườn bưởi, giờ chỉ còn khoảng 16 gốc. Sau khi tham gia tập huấn kỹ thuật, áp dụng các biện pháp kỹ thuật kết hợp thụ phấn nhân tạo, năm nay ước thu 50 triệu đồng. Theo ông Dũng, những hộ thu nhập cao từ cây bưởi như gia đình các ông: Nguyễn Văn Định, thôn Minh Thân thu khoảng 190 triệu, ông Nguyễn Văn Đông, Tạ Minh Tân, thôn Quyết Tiến thu chừng 140- 250 triệu...Dự kiến năm 2013 những người trồng bưởi xã Đại Minh thu khoảng 13 tỷ đồng.
Do bưởi Đại Minh ngon, nhất là bưởi thôn Khả Lĩnh, nên khi quả bưởi to bằng nắm tay các thương lái từ khắp nơi tới từng nhà đặt tiền mua bưởi. Ông Dũng cho biết: Bưởi bán dọc đường không phải là bưởi Đại Minh, nhất là không có bưởi Khả Lĩnh. Bưởi Khả Lĩnh làm sao phải chường mặt ra đường như thế, thương lái vào tận gốc mua hết từ lâu rồi...
Gia đình ông Dũng năm nay thu gần 3.000 trái bưởi, với giá bán tại nhà từ 20.000- 22.000đ/quả, hiện ông đã hái quây vào trong các cót. Ông chưa bán vội chờ gần Tết được giá mới bán. Còn hiện nay con gái ông là Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, sau khi tốt nghiệp Đại học Quản trị kinh doanh trong khi chờ việc ở nhà giúp vợ chồng ông phân từng loại bưởi đóng thành bao gửi xuống Hà Nội bán. Hạnh cho biết: Mỗi tuần cháu gửi xe ca vài trăm quả bán cho những nhà hàng và những gia đình quen biết ở Hà Nội. Ngày nào cũng có người gọi điện hỏi mua, từ nay đến Tết còn hai tháng nữa chưa vội bán đâu bác ạ...
Nguồn:

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Hoa mướp vàng



                                
             Tản văn của: Thái Sinh
             Sau những ngày mưa ngâu tôi giật mình nhìn ra ngõ bất ngờ nhận ra màu hoa mướp vàng rực rỡ trong nắng. Tôi sinh ra ở một làng quê đất chật người đông, bởi thế nhà nào cũng tận dụng mọi khoảnh đất trống để trồng cấy hoa màu. Trồng mướp không tốn đất nhưng phải có không gian làm giàn. Mướp là loài thân leo dễ trồng, đất nào cũng sống và cho quả, cũng giống như cuộc sống của người dân quê không cầu kỳ chỗ ở, leo hàng rào, mái bếp, trên nóc chuồng trâu, chuồng gà…bất kể chỗ nào cũng leo được. Vì không đủ đất nên nhiều gia đình ở quê tôi lấy luôn cái ngõ, mảnh sân làm giàn cho mướp leo, vừa che được cái nắng gay gắt mùa hạ lại vừa có quả ăn. Sau buổi đi cày về được một bát canh mướp nấu với rau đay và cua đồng thì nhất trần đời. Chả biết hoa mướp vàng có sức hấp dẫn đối với những chú ếch thế nào, đã khiến các chú phải sa vào bẫy? Thuở nhỏ tôi thường theo những thợ câu đi quanh các ao đầm trong làng, người ta buộc chiếc hoa mướp đã  vặt bớt cánh vào gần mồi câu rồi quăng ra xa khéo rê trên đám bèo và lớp lá hoa súng. Chả biết những chú ếch ẩn nấp ở đâu thấy màu vàng của hoa mướp là lao tới đớp mồi. Thật tội nghiệp cho loài háo sắc khi bị nhốt vào trong giỏ rồi còn kêu ộp oạp. Có lẽ thế mà người ta có câu thành ngữ “ ếch vồ hoa mướp”, chỉ loại người tham lam hễ thấy lợi là lao đầu vào.
Làng tôi có một người tên là Lý, chị hơn tôi chừng chục tuổi, người yêu của chị tên là Đông, anh nhập ngũ năm 1968, đó là những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt nhất. Hai năm đầu gia đình và chị nhận được vài bức thư của anh, sau đó thì không nhận được bất cứ tin tức gì nữa. Người ta đồn rằng anh Đông đã hy sinh rồi, chị sao không đi lấy chồng còn đợi anh ấy làm gì?  Chị trở nên ít nói như người mắc bệnh trầm uất, cứ từ độ tháng 5 khi hoa mướp  bắt đầu nở người ta lại thấy chị xếp quần áo vào chiếc tay nải đi lang thang như thể đi tìm ai đó. Người làng tôi bảo chị mắc bệnh “ Rồ hoa mướp”. Vài tháng sau khi trời chuyển sang Thu chị lại trở về làng làm ăn bình thường như mọi người khác. Bây giờ thì chị đã già, mái tóc bạc phơ sống một mình trong căn nhà lá ven đồng và căn bệnh “ Rồ hoa mướp” đã mất, chị không đi lang thang như nhiều năm trước đây. Năm ngoái tôi đến thăm chị, chị bắc một giàn mướp suốt từ ngoài ngõ cho đến sân, mùa hoa nở vàng rực rỡ. Chị bảo tôi: Năm nào chị cũng bán được ngót hai tạ mướp, đấy là chưa kể cho bà con làng xóm em ạ. Hôm ấy chị mời tôi ở lại ăn cơm, chị hái những chùm nụ mướp nấu với canh cua đồng ngọt lịm. Sau bữa cơm chị lấy từ đáy chiếc hòm gỗ cũ kỹ mấy lá thư đã ố vàng vì mồ hôi và năm tháng.  Chị đọc cho tôi nghe vài đoạn, rồi thẫn thờ nhìn ra ngoài ngõ vàng rực màu hoa mướp.